Chất lượng

“Lỗ hổng” vàng

09/12/2009

“Cơn sốt” vàng ngày 11/11/2009 đã qua đi, nhưng những nguyên nhân gây ra nó vẫn còn đó và âm ỉ bùng phát bởi các lỗ hổng trong chính sách tiền tệ liên quan đến quản lý, điều hành kinh doanh vàng trên tài khoản của Ngân hàng Nhà nước.

Khi ngân hàng được mở tài khoản vàng...

Huy động và cho vay vàng là một trong những hoạt động đã có từ nhiều năm trước của ngân hàng thương mại. Thường người ta vay vàng để thực hiện các giao dịch nhà đất. Vào năm 2003, thị trường nhà đất đóng băng, vàng cho vay yếu hẳn, một khối lượng lớn vàng từ gửi tiết kiệm của dân tồn đọng ở ngân hàng. Để tháo gỡ sự tồn đọng đó, Ngân hàng Nhà nước cho phép các tổ chức tín dụng được chuyển tối đa 30% vốn huy động bằng vàng thành tiền để cho vay.

Vào thời điểm ấy, đấy là một quyết định đúng. Nhờ chuyển đổi vàng, các ngân hàng có thêm nguồn cung tiền đồng. Tuy nhiên, khi ngân hàng bán thì có thể giá vàng ở mức thấp, khi mua lại để trả cho dân thì giá cao. Giá càng cao, nguy cơ ngân hàng lỗ càng hiển hiện. Giới ngân hàng bắt đầu nghĩ đến các công cụ bảo hiểm rủi ro cho giá vàng. Đầu năm 2004, Ngân hàng Nhà nước chọn lọc và cho phép một số ngân hàng mở tài khoản vàng tại Thụy Sỹ. Trước đó việc mở tài khoản vàng ở nước ngoài chưa từng xảy ra.

Có tài khoản vàng ở Thụy Sỹ, các ngân hàng kinh doanh dễ dàng hơn. Thí dụ ngân hàng XYZ bán 1 tấn vàng miếng (vàng vật chất) trong nước, họ có thể mua ngay lại 1 tấn vàng trên tài khoản. Như vậy, trạng thái vàng của XYZ sẽ cân bằng với điều kiện họ được phép nhập khẩu để 1 tấn vàng trên tài khoản kia trở thành 1 tấn vàng vật chất.

Còn nếu không được nhập, thì 1 tấn vàng vật chất bán ra trong nước chỉ được bảo hiểm rủi ro về giá, mà không được bảo hiểm rủi ro thanh khoản, trong khi chính thanh khoản góp phần tạo nguồn cung cho thị trường vàng. Song, việc cho nhập vàng là điều cần cân nhắc vì ngoại tệ đâu mà nhập?

Từ môi giới nội địa thành tay chơi quốc tế

Cuối năm 2007 - đầu năm 2008 các kênh đầu tư mất dần sức hấp dẫn. Giá đô la Mỹ trên thị trường tự do thấp hơn giá niêm yết của ngân hàng. Có ngày người dân mang ngoại tệ đến bán, ngân hàng từ chối mua. Chứng khoán tụt dốc và hứa hẹn lao dốc dài dài. Bất động sản phập phù. Ý tưởng lập sàn vàng manh nha trong giới kinh doanh kim loại quý.

Khởi thủy hoạt động của sàn vàng đơn giản chỉ là sự khớp lệnh giữa người bán - người mua. Đó là một sàn vàng vật chất đúng nghĩa, nhưng đơn điệu, ít người tham gia và không được mấy ai quan tâm. Để tạo sức hút cho sàn vàng, các chủ đầu tư, mà chủ yếu là các ngân hàng, bắt đầu sử dụng các công cụ phái sinh.

Thay vì chỉ ở vai trò môi giới, liên kết người mua kẻ bán theo kiểu “ai bán tôi mua, ai mua tôi bán”, chủ các sàn vàng trở thành tay chơi trung gian giữa thị trường trong và ngoài nước.

Việc mở tài khoản vàng ở Thụy Sỹ đã cho họ cơ hội thực hiện điều đó. Trên sàn, nếu nhà đầu tư bán ra 3 tấn vàng, mua vào 1 tấn, thì các ngân hàng đứng ra mua 2 tấn chênh lệch. Để cân bằng trạng thái, họ sẽ bán 2 tấn vàng qua tài khoản nước ngoài. Ngược lại, trường hợp nhà đầu tư mua nhiều, bán ít, ngân hàng bán ra 2 tấn vàng và mua bù 2 tấn qua tài khoản.

Vấn đề là ở chỗ nếu ngân hàng mua vàng trong nước giá cao, mua xong giá quốc tế lên, không mua lại vàng trên tài khoản thì trạng thái vàng của họ âm, còn mua thì lỗ. Để chặn sự lỗ ấy, sàn vàng đôi lúc “ngẫu nhiên” bị sập vì sự cố kỹ thuật.

Giá quốc tế càng biến động, các sàn vàng nội địa càng nhộn nhịp. Lẽ ra khi đó, Ngân hàng Nhà nước - đơn vị cấp phép cho các tổ chức tín dụng và công ty kinh doanh vàng trên tài khoản nước ngoài - phải xem xét lại, bổ sung thêm cơ sở pháp lý của việc trên.

Nhưng việc kiểm tra, xem xét lại, bổ sung thêm đã không diễn ra. Rõ ràng chúng ta đang thiếu một khuôn khổ pháp lý kịp thời nhằm điều chỉnh vai trò môi giới “xuyên quốc gia” của các công ty kinh doanh vàng hoặc các tổ chức tín dụng được mở tài khoản vàng ở nước ngoài.